Định lượng HbA1c [Máu]

Định lượng HbA1c [Máu] [ HbA1C ]

Mã dịch vụ: 23.0083.1523
Giá dịch vụ: 120.000 VNĐ
Ý nghĩa
Theo dõi việc tuân thủ phác đồ điều trị và mức glucose trong máu thời gian dài ở bệnh nhân tiểu đường.
Chỉ số kiểm soát tiểu đường (có liên quan trực tiếp với kiểm soát kém và tiến triển của biến chứng).
Dự đoán tiến triển của các biến chứng vi mạch do bệnh tiểu đường.
Có thể giúp chẩn đoán bệnh tiểu đường.
Định nghĩa
Glucose kết hợp với Hb liên tục và gần như không thể đảo ngược trong suốt thời gian tồn tại của hồng cầu (120 ngày). Do đó, glycosylated Hb (GHb) sẽ tỷ lệ thuận với mức glucose huyết tương trung bình trong suốt 6-12 tuần trước đó.
Kết quả có thể ghi là HbA1c hoặc tổng của A1b, A1a, hoặc A1c.
Việc biện luận kết quả HbA1c thường gây khó hiểu cho bệnh nhân tiểu đường, do bệnh nhân thường nghĩ HbA1c là kết quả glucose trong máu. Do đó, Hiệp hội Tiểu đường Hoa Kỳ (ADA) đã khuyến cáo các phòng xét nghiệm thể hiện kết quả HbA1c thông qua kết quả ước lượng glucose trung bình trong máu (eAG). ADA tin rằng kết quả eAG sẽ giúp bệnh nhân dễ hiểu hơn và do đó giúp cải thiện việc điều trị bệnh tiểu đường.
Công thức tính eAG như sau:
eAG (mg/dL) = 28.7 x HbA1c - 46.7
Giá trị bình thường
Nam: ≤ 7 %
Nữ: ≤ 7 %
Diễn giải kết quả
Xét nghiệm A1c cần được thực hiện ít nhất 2 lần mỗi năm ở bệnh nhân đã đạt được mục tiêu điều trị (đã kiểm soát glucose trong máu ổn định).
Xét nghiệm A1c cần được thực hiện hàng quý ở bệnh nhân đã được thay đổi phác đồ điều trị hoặc những bệnh nhân không đạt được mục tiêu điều trị.
Kết quả A1c từ 7% trở xuống giúp giảm các biến chứng vi mạch và thần kinh ở bệnh nhân tiểu đường type 1 và 2. Do đó, để ngăn ngừa các bệnh liên quan đến vi mạch, mục tiêu A1c ở người trưởng thành không mang thai thường là < 7%.
Kết quả tăng cho biết bệnh tiểu đường nếu không có các yếu tố nguy cơ (xem bên dưới) nhưng kết quả bình thường không loại trừ khả năng dung nập glucose bị suy yếu. Bệnh nhân tiểu đường không điều trị có kết quả cao hơn mức trung bình.
Kết quả tăng trong vòng 1 tuần sau khi mức glucose trong máu tăng do ngừng điều trị nhưng có thể không giảm trong 2-4 tuần sau khi mức glucose trong máu giảm do điều trị trở lại.
Giá trị glucose trong máu trong 30 ngày đầu (ngày 0-30) trước khi lấy mẫu GHb đóng góp 50% vào giá trị GHb, trong khi giá trị glucose ở ngày 90-120 đóng góp 10% giá trị.
Khi kết quả glucose đói trong máu < 110 mg/dL, HbA1c có giá trị bình thường ở > 96% bệnh nhân.
Khi kết quả glucose đói trong máu từ 110-125 mg/dL, HbA1c có giá trị bình thường ở > 80% bệnh nhân.
Khi kết quả glucose đói trong máu > 126 mg/dL, HbA1c có giá trị bình thường ở > 60% bệnh nhân.
GHb tăng 1% tương đương glucose tăng ~30 mg/dL.
Khi giá trị HbA1c hàng năm < 1.1 lần ngưỡng trên của giá trị bình thường, các biến chứng thận và võng mạc thường hiếm gặp, nhưng các biến chứng xuất hiện > 70% bệnh nhân khi HbA1c > 1.7 lần ngưỡng trên của giá trị bình thường.
Kết quả tăng
Suy thận mạn, có hoặc không có chạy thận nhân tạo
Thiếu máu do thiếu sắt
Thủ thuật cắt bỏ lách
Tăng triglyceride trong huyết thanh
Uống rượu
Ngộ độc chì và opiate
Điều trị bằng salicylate
Kết quả giảm
Thường gian tồn tại của hồng cầu ngắn (ví dụ, thiếu máu do tiêu huyết, mất máu)
Truyền máu
Mang thai
Ăn thức ăn chứa nhiều vitamin C hoặc vitamin E (> 1 g/ngày)
Các bệnh hemoglobin (ví dụ, bệnh hồng cầu hình tròn)