Định lượng CEA (Carcino Embryonic Antigen) [Máu]

Định lượng CEA (Carcino Embryonic Antigen) [Máu] [ CEA ]

Mã dịch vụ: 23.0039.1476
Giá dịch vụ: 199.000 VNĐ
Ý nghĩa
CEA dùng để theo dõi ung thư ruột kết và trực tràng và một số ung thư khác như ung thư tuyến giáp khởi đầu từ các tế bào tiết hormone calcitonin (medullary thyroid carcinoma)
Đánh giá hiệu quả hóa trị hoặc xạ trị
Chẩn đoán tràn dịch màng phổi ác tính
Không dùng để sàng lọc ung thư trong cộng đồng
Định nghĩa
CEA là một glycoprotein thường chỉ được sinh tổng hợp trong giai đoạn sớm của bào thai và trong quá trình nhân lên nhanh của các tế bào biểu mô, đặc biệt là trong hệ tiêu hóa. CEA cũng xuất hiện trong máu của những người nghiện thuốc lá. Khoảng 25% bệnh nhân mắc bệnh ruột kết có CEA tăng cao. Độ nhạy gia tăng khi khối u tiến triển.
Xét nghiệm CEA chỉ nên chỉ định sau khi khối u ác tính đã được xác định. Mức CEA thường trở về bình thường trong vòng 4-6 tuần sau khi cắt bỏ khối u. Mục đích chính là để theo dõi tái phát sau điều trị. Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ khuyến cáo theo dõi mức CEA mỗi 2-3 tháng trong ít nhất 2 năm ở những bệnh nhân giai đoạn II và III.
Giá trị bình thường
Nam: < 3.4 ng/mL
Nữ: < 3.4 ng/mL
Diễn giải kết quả
Kết quả tăng
Ung thư. Kết quả tăng chỉ gợi ý về bệnh ung thư.
75% bệnh nhân ung thư biểu mô có nguồn gốc nội bì (ruột kết, dạ dày, tuyến tụy, phổi) có kết quả CEA >2.5 ng/mL, hai phần ba có kết quả >5ng/mL.
50% bệnh nhân ung thư biểu mô không có nguồn gốc nội bì (đặc biệt là ung thư vú, đầu, cổ, buồng trứng) có kết quả Cea >2.5 ng/mL, và 50% có kết quả >5 ng/mL.
40% bệnh nhân có bệnh ác tính không phải ung thư biểu mô có kết quả CEA tăng, thường 2.5-5.0 ng/mL.
Kết quả tăng ở 90% bệnh nhân có khối mô bất thường (solid-tissue tumors), đặc biệt là khối u di căn đền gan hoặc phổi, nhưng kết quả chỉ tăng ở 50% bệnh nhân có bệnh cục bộ hoặc chỉ di căn bên trong khoang bụng.
Có thể gia tăng trong dịch tràn do các loại ung thư trên. Các bệnh gây viêm không ác tính (đặc biệt là hệ dạ dày ruột, như viêm ruột kết gây loét mạn tính, viêm ruột cục bộ, viêm túi thừa, loét dạ dày tá tràng, viêm tụy mạn) thường có kết quả gia tăng sau đó giảm khi bệnh thuyên giảm.
Bệnh gan (do rượu, bệnh xơ gan, viêm gan mạn, vàng da tắc nghẽn)
Các rối loạn khác như suy thận, bệnh u nang ở ngực (fibrocystic disease of breast)